7. 50 NĂM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

B.S YNGÔNG NIÊKĐĂM

                                                                                                                            Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội

 

Việt Nam ta là một nhà nước độc lập, thống nhất gồm nhiều dân tộc anh em chung sống. Đối với các dân tộc thì tình yêu quê hương, yêu dân tộc, yêu đất nước gắn bó chặt chẽ với nhau là cả một quá trình trong sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng cuộc sống mới.

Sinh thời, Bác Hồ từng kêu gọi: “Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc. Phải ra sức làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp”.

Ngay từ buổi đầu cách mạng, với đường lối đúng đắn, Đảng cộng sản Việt Nam đã tập hợp được một đội ngũ chiến sĩ kiên cường, những người con ưu tú của các dân tộc anh em tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập Mặt trận Việt Minh, lập nên các khu căn cứ địa, mở đường tiến lên giải phóng hoàn toàn đất nước. Với 116 anh hùng ở 22 dân tộc và 236 bà mẹ anh hùng ở 32 dân tộc thiểu số đã nói lên sự đóng góp to lớn, sự hy sinh cao cả cho sự nghiệp chung của toàn Đảng toàn dân ta.

Tính tích cực cao của nhân dân các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp giải phóng đất nước là do Đảng cộng sản Việt Nam với những chính sách đúng đắn của mình đã động viên, phát huy lòng yêu nước và tự hào dân tộc, truyền thống đấu tranh và tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc ở nước ta.

Từ sau ngày giải phóng thống nhất đất nước 1975, được sự chăm lo của Đảng và Nhà nước, các dân tộc thiểu số Việt Nam đã có sự phát triển khá đồng đều từ Bắc chí Nam, nhiều vùng, nhiều địa phương đã có những bước đi khá mạnh mẽ, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao rõ rệt. 54 dân tộc trong cộng đồng cả dân tộc Việt Nam hôm nay cư trú ở 53 tỉnh, thành phố đã có những đổi mới cực kỳ sâu sắc. Trước đây phần lớn các dân tộc thiểu số là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn, có chỗ sống rất biệt lập, nặng về tự cấp, tự túc thì nay cuộc sống đan xen (xen canh, xen cư) quan hệ hôn nhân, hợp pháp làm ăn của bà con các dân tộc đang trở thành phổ biến ở trên 40 tỉnh, thành phố.

Ví dụ: như Đăk Lắk ngày trước chỉ có vài dân tộc, nay đã có 36 dân tộc anh em chung sống, Bà Rịa - Vũng Tàu có tới 27 dân tộc. Trước đây người Tày, người H’Mông sống trên núi cao Việt Bắc, nay đã tới sinh sống ở Tây Nguyên, Vũng Tàu. “Dân tộc Việt Nam là một, Tổ quốc Việt Nam là một” chân lý đó ngày nay đang được toàn Đảng, toàn dân chăm lo xây đắp.

Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Chính phủ với các chương trình có mục tiêu theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, nhất là việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế đã tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi có một sự phát triển mới phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của cả từng nơi. Quá trình đô thị hoá ở miền núi đã và đang khởi sắc, ở đó cư dân các dân tộc ít người đang tăng lên, đời sống dân trí được tăng cao không ngừng.

Song song với sự phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá cũng đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường dự bị Đại học dân tộc, các lớp riêng cho con em dân tộc ít người, các trường đại hoạc, trung học chuyên nghiệp ở Việt Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ... đã là nguồn đào tạo cán bộ rất quan trọng cho các vùng dân tộc và miền núi.

Việc phát triển văn hoá giữ gìn bản sắc dân tộc được chú ý cùng với sự phát triển của hệ thống truyền thanh, truyền hình đã đem ánh sáng văn minh, phổ biến tiến bộ kỹ thuật đến các buôn làng xa xôi hẻo lánh, nơi biên giới, hải đảo cũng đã góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị của cả nước.

Tinh thần tự lực tự cường, sự vươn lên của mỗi dân tộc là hết sức quan trọng, là yếu tố quyết định đối với sự tiến bộ xã hội. Nhiều mô hình làm ăn tốt là do sự cố gắng vươn lên của bà con trong buôn làng, bản mường. Hoà với sự tiến bộ chung, cán bộ dân tộc thiểu số đang được đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng để xây dựng cho được đội ngũ cán bộ của mình để vừa có năng lực vừa gắn bó sâu sắc với tiến bộ xã hội của đồng bào nơi quê hương mình.

Đảng cộng sản Việt Nam đã có chính sách dân tộc, chính sách đó là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Song mới thể chế vào Hiến pháp, chưa được cụ thể hoá bằng pháp luật. Nước ta là một nước có nhiều dân tộc, theo đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Vì vậy trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền cần thiết phải thể chế chính sách dân tộc của Đảng thành Luật pháp của nhà nước. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về công tác xây dựng pháp luật từ nay đến hết nhiệm kỳ Quốc hội khoá IX, được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phân công, Hội đồng dân tộc đang chủ trì soạn thảo Luật dân tộc để có cơ sở pháp lý, để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc.

Tuy nhiên, mọi cái cũng mới bắt đầu, từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có những cái do lịch sử để lại cộng với các khó khăn khách quan và chủ quan, đa số vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chuyển chưa kịp. Do tài nguyên nhiều vùng khai thác đã cạn kiệt, vốn đầu tư lại hạn hẹp, dân số tăng nhanh, cơ sở hạ tầng thấp kém nên đời sống của đồng bào, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng căn cứ cách mạng khá là bức bách, hàng vạn dân ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung đã ồ ạt di cư lên Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam gây nên tình trạng phá rừng, tranh chấp đất đai đang là vấn đề sôi động ở một số địa phương.

Để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, trước mắt các cấp, các ngành cần thực hiện tốt Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Chính phủ, cụ thể là thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu đã được phê duyệt như chương trình 327 về phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ rừng; các chương trình định canh đinh cư, xoá đói giảm nghèo, phòng chống và kiểm soát ma tuý, chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn, thực hiện các chính sách trợ giá, xây dựng các trung tâm cụm xã... Làm tốt công tác đầu tư, hợp tác quốc tế trên các vùng dân tộc và miền núi. Đó là những giải pháp đồng bộ với những bước đi thích hợp cho từng vùng, từng dân tộc, thiết thực phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi, 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam được cùng nhau chung sống thân ái như 54 cái cột vững chắc dựng lên ngôi nhà Việt Nam. Tổ quốc thân yêu của tất cả chúng ta ngày một khang trang đẹp đẽ, phấn đấu đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

 

Về trang mục lục

Trở về đầu trang